luat-su

DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG – NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT

Mục Lục

Di chúc chung của vợ chồng là một chế định pháp luật được nhiều người quan tâm, bởi theo Luật hôn nhân gia đình thì khi hai người kết hôn sẽ phát sinh tài sản chung vợ chồng, khối tài sản do vợ chồng tạo lập thường được họ cùng nhau định đoạt.

Vì vậy tại Bộ luật dân sự 2005 đã quy định về việc lập di chúc chung của vợ chồng. Tuy nhiên, đến Bộ luật dân sự 2015 thì nhà lập pháp lại bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng, vậy liệu vợ chồng có được quyền lập di chúc chung hay không? Ưu điểm và nhược điểm của việc lập di chúc chung là gì?

Sau đây Luật sư Trần Hiểu sẽ giải đáp cho bạn những thắc mắc liên quan đến di chúc chung của vợ chồng từ pháp luật cho đến thực tiễn.

Việc lập di chúc chung của vợ chồng

Theo Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

dieu29

Như vậy, pháp luật tôn trong quyền bình đẳng của vợ chồng về việc định đoạt tài sản chung, không có sự phân biệt giữa vợ chồng trong việc định đoạt tài sản.

Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

✅ Tài sản do vợ, chồng tạo ra được, thu nhập hợp pháp do bản thân lao động, thông qua sản xuất, kinh doanh thu được, hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ/chồng và các khoản thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân như trúng vé số, trợ cấp; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Như vậy, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng thực hiện việc chia tài sản chung thì phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng thỏa thuận đó là tài sản chung thì pháp luật vẫn công nhận.

Ngoài ra:

✅ Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được được tặng cho riêng ,thừa kế riêng, hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tuy nhiên, khoản hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng ví dụ như cho thuê quyền sử dụng đất thì tiền thuê mỗi tháng là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

✅ Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu hợp nhất, không ai có quyền tự ý quyết định bán đi khi không được vợ/chồng đồng ý.

✅ Trong trường hợp không có căn cứ (giấy tờ hợp pháp) để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Như vậy, khi tạo lập tài sản riêng, bắt buộc vợ/chồng phải có dữ liệu chứng minh việc mua tài sản hoàn toàn từ tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, hoa lợi, lợi tức từ tài sản đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Như vậy, nếu có mong muốn lập di chúc chung thì vợ chồng hoàn toàn có thể lập di chúc đối với những tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để định đoạt tài sản của mình sau khi chết.

Quy định của pháp luật về di chúc chung vợ chồng

Bộ luật Dân sự năm 2015 hiện hành không quy định việc lập di chúc chung của vợ chồng. Bởi lẽ, khi muốn sửa chữa, bổ sung, huỷ bỏ, thay thế di chúc phải được sự đồng ý của người còn lại. Ngoài ra, nếu một người đã chết thì người còn lại chỉ được sửa đổi, bổ sung di chúc với nội dung định đoạt phần tài sản của mình. Lúc này, để phân chia và xác định phần tài sản của người này sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì nếu nội dung di chúc không thể hiện tỷ lệ sở hữu theo % của mỗi người, di chúc rất khó thực hiện dễ dẫn đến các tranh chấp.

Tuy nhiên, hiện nay pháp luật không cấm việc lập di chúc chung của vợ chồng. Do đó, chỉ cần đảm bảo thực hiện đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của di chúc thì di chúc sẽ được pháp luật công nhận. 

Di chúc chung vợ chồng cũng phải tuân thủ các điều kiện để di chúc hợp pháp quy định tại Điều 630 BLDS. Theo đó phải đáp ứng được các điều kiện cả về mặt nội dung lẫn hình thức theo quy định của luật dân sự. Ngoài ra, vợ chồng cũng phải bàn bạc kỹ càng để bản di chúc dễ dàng được thực hiện khi mình qua đời, tránh trường hợp gây khó khăn cho người hưởng di sản sau này. Bởi xét cho cùng những người hưởng di sản của vợ chồng thường là con cái hoặc người thân ruột thịt vì vậy vợ chồng cần rất tế nhị trong việc định đoạt tài sản, tránh gây ra những bất đồng không đáng có khi phân chia di sản.

Thời điểm có hiệu lực

Hiện nay, vì những bật cập trong quy định về di chúc chung vợ chồng nên Bộ luật dân sự năm 2015 đã bãi bỏ quy định về di chúc chung vợ chồng. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng không cấm việc lập di chúc chung vợ chồng.

Mặt khác, nhiều bản di chúc chung của vợ chồng được lập trong thời kỳ Bộ luật dân sự năm 1995, Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật vẫn đang tồn tại. Do đó việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng khiến rất nhiều người lúng túng.

Theo quan điểm của Luật sư Trần Hiểu thì hiện nay pháp luật đã quy định về thời điểm mở thừa kế tại khoản 1 Điều 611 BLDS 2015 là thời điểm người có tài sản chết. Điều này mâu thuẫn với quy định của BLDS 2005 về thời điểm mở thừa kế của di chúc chung vợ chồng là khi người sau cùng chết. Bởi trong thực tiễn đa số các cặp vợ chồng không chết cùng thời điểm, mà người chết trước, người chết sau.

Kết luận

Vì vậy, đối với các di chúc phát sinh tại thời điểm luật dân sự 2005 có hiệu lực thì có thể áp dụng thoả thuận tại di chúc về thời điểm mở thừa kế là thời điểm sau khi người vợ/chồng sau cùng chết.

Còn đối với các di chúc phát sinh tại thời điểm luật dân sự 2015 có hiệu lực sẽ áp dụng theo đúng quy định tại Điều 611 BLDS 2015 để xác định thời điểm mở thừa kế.

Theo tôi, hiện nay cần xây dựng cụ thể về chế định di chúc chung của vợ chồng bởi có tích áp dụng thực tiễn cao và nên quy định đây là một trường hợp đặc biệt trong vấn đề di chúc và thừa kế thì sẽ phù hợp hơn là áp dụng theo quy định chung của pháp luật.

Trên đây là những chia sẻ của Luật sư Trần Hiểu về vấn đề di chúc chung của vợ chồng, rất mong bạn đọc sẽ có được những kiến thức hữu ích để áp dụng trong thực tế cuộc sống.

LIÊN HỆ TƯ VẤN VỀ DI CHÚC -THỪA KẾ: 0889181585

Trân trọng!

DMCA.com Protection Status